Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

Email tuy 'già' vẫn là ứng dụng phổ biến nhất

Email Marketing Lap trinh di dong Lap trinh mobile Lap trinh Android Lap trinh IOS Hoc lap trinh di dong Hoc lap trinh mobile Lap trinh PHP Hoc PHP Lap trinh Java Hoc Java

Với tỷ lệ 85% người dùng, email vẫn là ứng dụng kết nối Internet được sử dụng nhiều nhất dù đã gần 30 năm tuổi, bất chấp sự bùng nổ của các mạng xã hội như Facebook hay Twitter.
Facebook hiện có đến 850 triệu người dùng. Twitter có khoảng 500 triệu người dùng. Amazon có khoảng 100 triệu khách hàng trên toàn thế giới. Bên cạnh đó là các dịch vụ nổi tiếng khác trên Internet như IM (gửi tin nhắn ngắn), VoIP, dịch vụ chia sẻ video trực tuyến – dạng như YouTube hoặc Netflix… Tuy nhiên, ứng dụng quan trọng hơn cả và buộc người dùng Internet phải có chính là email. Theo một bình chọn mới đây trên của tổ chức Ngoại giao quốc tế Ipsos phối hợp với Reuters, có đến 85% người dùng Internet toàn cầu sử dụng email như là công cụ giao tiếp chính. Trong khi đó, số lượng người dùng Internet có tham gia vào các mạng xã hội chiếm khoảng 65%.
Vậy đâu là lý do khiến cho email có sức thống trị trong suốt 30 năm qua? Và liệu mạng xã hội và các hình thức giao tiếp cộng đồng khác trên Internet có thể làm thay đổi vai trò này của email trong đời sống số?
Ai cũng có email
Email được sử dụng rộng rãi trước hết do nó rất đơn giản và không đòi hỏi nhiều kỹ năng công nghệ. Công nghệ email cốt lõi không thay đổi nhiều lắm trong suốt 3 thập kỷ qua, từ năm 1982 với kiểu mã RFC 821 của Jon Postel. Công nghệ này được nâng cấp nhiều lần sau đó và đến những năm 1990 email mới có thêm tính năng đính kèm file và gửi thông điệp có nhiều phần.
Tính đơn giản của email khiến cho nó dễ dàng xây dựng hệ thống hỗ trợ email trên bất kỳ một dịch vụ hay thiết bị có Internet nào. Điều này khiến cho email trở thành một dịch vụ Internet độc lập có sẵn đối với hầu như mọi người dùng Internet.
Điều tra của Ipsos nói ở trên minh chứng rất rõ điều này. Có khoảng 24 quốc gia được khảo sát trong thời gian 3 tháng gần đây. Kết quả là, có đến 85% người dùng Internet có sử dụng dịch vụ email. Một vài quốc gia phát triển, số lượng người dùng email lên đến trên 90% như Hungary, Thụy Điển, Bỉ, Indonesia, Argentina, và Ba Lan.
Trong khi đó, ở nhóm quốc gia ít sử dụng email hơn thì tỷ lệ người dùng này vẫn chiếm đến ít nhất là 46% (Ả rập Xê-út), và 66% (Ấn Độ).
Thống kê về tỉ lệ người dùng email trong số người dùng Internet tại 24 quốc gia.
Sự đe dọa của mạng xã hội và VoIP Mạng xã hội đang hình thành nên một dạng giao tiếp khác trên Internet với số lượng 62% trong tổng số lượng người dùng trên Internet. Trong đó, tại Indonesia, dịch vụ này phát triển nhất thế giới với tỉ lệ lên đến 83%, rồi đến Argentina (76%). Tỷ lệ sử dụng mạng xã hội thấp nhất là 35% tại Nhật Bản và Ả rập Xê-út (42%). Sức phát triển này rất đáng kể khi mà các loại hình mạng xã hội mới chỉ phát triển trong khoảng chưa đến 10 năm gần đây.
Một điều đáng chú ý là, rất nhiều các cường quốc kinh tế như Mỹ, Australia, Bỉ, Canada, Pháp có tỷ lệ người dùng mạng xã hội thấp hơn mức trung bình, chỉ ở mức từ 50% đến 60%.
Thống kê về tỷ lệ người dùng mạng xã hội trong số người dùng Internet tại 24 quốc gia.
Trong khi đó, một dịch vụ khác từng rất phát triển trên Internet là VoIP (thoại qua Internet) từ nhiều năm trước đây lại đang có dấu hiệu chững lại và giảm sút rõ rệt. Hiện tại, có khoảng 14% người dùng Internet vẫn đang sử dụng VoIP với lượng người dùng tập trung chủ yếu ở Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, và Ấn Độ và Ả rập Xê-út, trong khi hầu như vắng bóng ở các quốc qua phát triển như Mỹ, Brazil và Pháp (khoảng 4%) - nơi sẵn sàng hơn về hệ thống dịch vụ viễn thông truyền thống. Đáng chú ý nhất trong các dịch vụ VoIP vẫn là Skype. Sau thương vụ trị giá 8,5 tỷ USD với Microsoft vào năm 2011, người ta kỳ vọng rằng công nghệ VoIP sẽ lại hồi sinh với các ứng dụng tiện ích của nó.
Windows 8 sẽ là nền tảng đầu tiên tích hợp sẵn Skype. Tuy nhiên cho đến khi Windows 8 chính thức được phát hành, chỉ có thời gian mới có thể trả lời được rằng liệu Microsoft có thành công hay không.
Email vẫn có các vấn đề nảy sinh như lỗi về định dạng, lỗi đồng bộ hóa, khả năng gửi nhóm, và nhất là vấn nạn thư rác. Trong khi đó, sự cạnh tranh từ các dịch vụ đi kèm theo mạng xã hội (chẳng hạn chức năng gửi tin nhắn trên Facebook) cũng có thể sẽ là mối đe dọa với sự tồn tại của dịch vụ email.
Tuy nhiên, email chắc chắn sẽ vẫn duy trì là dịch vụ giao tiếp phổ biến nhất đối với người dùng Internet trong nhiều năm nữa chính bởi sự giản tiện của nó, trong khi các dịch vụ khác đều đòi hỏi cao hơn về trình độ công nghệ. Chẳng hạn, các dịch vụ web đang dần dần từ bỏ các trình duyệt đã cũ và giới thiệu thêm các tính năng dành riêng cho một số nền tảng đặc thù. Các ứng dụng cho smartphonemáy tính bảng có thể dễ tương thích với trình duyệt web bản thấp, nhưng chính các thiết bị đó lại đòi hỏi người có kỹ năng công nghệ. Hay chính Facebook cũng cung cấp khá nhiều dịch vụ phải phụ thuộc vào các khái niệm như Flash, HTML… vốn không phải là thứ dễ hiểu với tất cả người dùng…
Rõ ràng là, các mạng xã hội khó có thể đổi ngôi cho email chỉ trong một sớm một chiều.

Công nghệ mới cho phép xử lý thông tin từ mạng xã hội

Email Marketing Lap trinh di dong Lap trinh mobile Lap trinh Android Lap trinh IOS Hoc lap trinh di dong Hoc lap trinh mobile Lap trinh PHP Hoc PHP Lap trinh Java Hoc Java

Công nghệ xử lý dữ liệu lớn có thể xử lý mọi loại dữ liệu từ các nguồn như mạng xã hội, cảm biến, camera… với mọi định dạng và theo thời gian thực.
Dữ liệu lớn là gì?
Lâu nay, các công ty, tổ chức thường chỉ có thể quản lý được các dữ liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu. Ngày nay, cùng với sự phổ biến của các mạng xã hội, các weblog, thiết bị cảm biến, bản ghi log của các thiết bị, các hình ảnh..., thông tin nằm rải rác nhiều nơi và có thể mang lại những thông tin hữu ích nếu được tập hợp, xử lý.
Những thông tin như vậy được các nhà nghiên cứu công nghệ gọi là Dữ liệu lớn (Big Data). Nó không chỉ lớn về mặt khối lượng mà còn vô cùng đa dạng về định dạng cũng như tốc độ sinh ra.
Thông tin chia sẻ trên mạng xã hội có thể giúp doanh nghiệp trong việc kinh doanh.
Các công ty nghiên cứu thị trường như IDC, Gartner cũng chỉ ra rằng các tổ chức đang rất nỗ lực để tích hợp các dạng và nguồn thông tin mới, đa dạng, có giá trị cao vào một cơ sở hạ tầng quản lý thông tin nhất quán.
Trong khi các công nghệ xử lý dữ liệu trước đây chỉ có khả năng xử lý các loại dữ liệu có cấu trúc, vì vậy, rất cần có một giải pháp chuyên biệt dùng cho xử lý các dữ liệu không có định dạng từ nhiều nguồn khác nhau (như các cảm biến, camera, mạng xã hội,…) theo tốc độ nhanh và thời gian thực.
Và nay đã có giải pháp.
Chẳng hạn, trong điều tra tội phạm, công nghệ xử lý dữ liệu lớn có thể truy soát biển số xe từ các cảm biến, các file video do các camera ghi lại, truy cuộc gọi từ điện thoại, truy thông tin di chuyển của đối tượng qua các hệ thống định vị… và gửi tự động về trung tâm giúp việc điều tra được thực hiện nhanh chóng, khẩn trương.
Trong y tế, việc theo dõi các căn bệnh mãn tính hoặc lâu dài là rất đắt đỏ, việc sử dụng các thiết bị cảm biến tại nhà riêng để đo các chỉ số sức khỏe (như nhịp tim, huyết áp, đường huyết,…) phục vụ việc giám sát bệnh từ xa có thể giúp cải thiện sức khỏe bệnh nhân nhờ được theo dõi kịp thời mà lại giảm được số lần thăm khám và nhập viện.
Ông Kaleem Chaudhry, Giám đốc khu vực khối công nghệ doanh nghiệp, Oracle châu Á – Thái Bình Dương cho biết các giải pháp cũ thường chỉ xử lý những dữ liệu có định dạng, đưa ra những nhận xét về hiệu quả của những việc đã làm nhưng với công nghệ xử lý dữ liệu mới có thể thu thập thông tin từ hàng trăm nguồn khác nhau và xử lý nó, tìm mối quan hệ cho các thông tin để đưa ra những quyết định cho tương lai.
Ứng dụng Dữ liệu lớn trong doanh nghiệp
Công nghệ xử lý Dữ liệu lớn rất phù hợp đối với các hoạt động trong doanh nghiệp, giúp trả lời các câu hỏi tại sao doanh thu của công ty sụt giảm? Sản phẩm nào được thị trường chú trọng?... Chẳng hạn, trước đây, các công ty bán lẻ thường chỉ có các bản ghi về các khách hàng đã mua sản phẩm. Nhưng với công nghệ dữ liệu lớn có thể giúp họ có được thông tin từ mạng xã hội và các bản ghi từ các trang web (weblog) thương mại điện tử có thể giúp họ hiểu rõ ai là người không mua hàng cũng như lý do vì sao họ lại không mua hàng, những thông tin mà trước đây họ không thể có được.
Chẳng hạn, thông qua các thông tin trên mạng xã hội, doanh nghiệp có thể hiểu ra rằng có 5 sản phẩm “hot” trên thị trường mà cửa hàng mình không có hoặc không có cỡ mà người mua hay dùng…
Đối với các nhà mạng, họ cũng có thể truy cứu dữ liệu sâu từ các sổ ghi (log file) để tìm hiểu xem nguyên nhân nào khách hàng bỏ mạng: do điện thoại của khách hay do lỗi phủ sóng.
Cũng theo Kaleem, công nghệ xử lý Dữ liệu lớn chính là sự bổ sung cho các công nghệ xử lý dữ liệu trước đây. Đối với các doanh nghiệp, công nghệ xử lý Dữ liệu lớn sẽ đem lại khả năng xử lý thông tin toàn diện trong doanh nghiệp cùng với công nghệ xử lý dữ liệu có cấu trúc theo kiểu truyền thống, công nghệ phân tích thông tin doanh nghiệp.

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

Những “vệ sĩ” diệt virus hiệu quả nhất

Email Marketing Lap trinh di dong Lap trinh mobile Lap trinh Android Lap trinh IOS Hoc lap trinh di dong Hoc lap trinh mobile Lap trinh PHP Hoc PHP Lap trinh Java Hoc Java

Khi công nghệ càng phát triển và ngày càng có nhiều người dùng sử dụng các thiết bị số để truy cập Internet, thì các loại virus, phần mềm độc hại,… càng sinh sôi nhanh và mức độ nguy hiểm hơn. Dưới đây là những “vệ sĩ” giúp bạn diệt virus hiệu quả.

Các công cụ chỉ có chức năng quét sạch
Ba trong số các sản phẩm dưới đây được thiết kế chỉ để làm sạch sự quấy phá của mã độc mà không có thành phần bảo vệ theo thời gian thực.

Phần mềm Anti-Malware Free 1.51 của Malwarebytes được đánh giá hiệu quả nhất. Tỷ lệ phát hiện các thành phần độc hại của phần mềm này không cao nhưng hiệu quả trong việc loại bỏ chúng.

Phần mềm thương mại Anti-Malware PRO 1.51 (giá 24,95USD) của Malwarebytes bổ sung thêm khả năng bảo vệ thời gian thực nhưng hiệu quả vẫn không cao.

Norman Malware Cleaner 2.1 (miễn phí) không hiệu quả như Malwarebytes. Điểm số loại bỏ các thành phần độc hại của phần mềm này đặc biệt thấp vì hầu hết các thành phần độc hại được phát hiện vẫn hoạt động sau khi đã quét chúng khỏi thiết bị bằng phần mềm này.
Các công cụ diệt virus miễn phí

Malwarebytes và Norman Malware Cleaner
là hai tiện ích diệt virus miễn phí tập trung vào làm sạch các mối đe dọa đang tồn tại. Vài phần mềm miễn phí khác cũng có khả năng làm sạch và bảo vệ thời gian thực như:

Panda Cloud Anti-Virus 1.5 Free Edition (miễn phí) là các sản phẩm của năm 2012. Sản phẩm có tỷ lệ bảo vệ cao nhất trong cuộc kiểm thử loại bỏ mã độc nhưng không làm sạch hoàn toàn “chân rết” độc hại.

AVG Anti-Virus Free 2012: Có khả năng quét sạch các thành phần độc hại tốt nhất trong số các phần mềm miễn phí kể trên. Sản phẩm còn có khả năng ngăn chặn phần mềm độc hại và được đánh giá khá cao trong các cuộc kiểm thử độc lập.

Avira Free Antivirus 2012: Trong cuộc kiểm thử các thành phần độc hại, sản phẩm đã bỏ lỡ một số mẫu và không loại bỏ hoàn toàn những thứ chúng phát hiện ra. Vì vậy, sản phẩm được xếp sau AVG về khả năng loại bỏ thành phần độc hại.
Phần mềm theo chức năng
Một số sản phẩm 2012 cung cấp khả năng bảo vệ không đồng đều. Chẳng hạn như Antivirus Pro 7.5 (giá 29,95USD) thực hiện khá tốt việc ngăn chặn mã độc nhưng khá nghèo nàn trong việc vô hiệu hóa mã độc.

Panda Antivirus Pro 2012 (giá 50USD/năm cho ba máy) đáng chú ý trong việc dọn sạch phần mềm độc hại.

G Data AntiVirus 2012 (29.95USD) có tỷ lệ phát hiện cao thứ hai trong cuộc kiểm tra ngăn chặn phần mềm độc hại nhưng khả năng loại bỏ chỉ đạt mức trung bình.

ESET NOD32 Antivirus 5 (40USD) có chức năng dọn dẹp phần mềm độc hai nhưng gần như không hiệu quả trong việc ngăn chặn các cuộc tấn công của phầm mềm độc hại mới, đặc biệt là các chương trình “ma”.

BullGuard Antivirus 12 đạt số điểm thấp nhất trong cuộc kiểm thử khả năng loại bỏ các phần mềm độc hại, nhưng khả năng ngăn chặn chỉ đứng sau G Data.

McAfee AntiVirus Plus 2012 ghi điểm cao hơn so với BullGuard về khả năng loại bỏ mã độc nhưng kỹ năng ngăn chặn phần mềm độc hại lại chỉ ở mức trung bình.

TrustPort Antivirus 2012 đạt điểm số tốt trong cả hai cuộc thử nghiệm về khả năng phát hiện, ngăn chặn và gỡ bỏ phần mềm độc hại. Tuy nhiên, khả năng phát hiện dựa trên hành vi của sản phẩm này lại không phân biệt được các phần mềm hữu ích và độc hại.

Trend Micro Titanium Antivirus+ 2012 (40USD) phát hiện hầu hết các mối đe dọa nguy hiểm nhưng không ngăn chặn triệt để.

Kaspersky Anti-Virus 2012 (60USD) được đánh giá cao nhưng để đạt hiệu quả cao đó thì cần phải có sự hỗ trợ kỹ thuật từ các chuyên gia của hãng.
Tốt hơn cả diệt virus
Phần mềm diệt virus ZoneAlarm Antivirus kèm theo Firewall 2012 có giá 60USD cung cấp nhiều tính năng mạnh mẽ như xử lý tốt những phần mềm độc hại mà nó phát hiện, giám sát các hoạt động giao dịch tín dụng, tích hợp tường lửa, công cụ chống lừa đảo và sao lưu.

Bitdefender Antivirus Plus 2012 (39,95USD) đạt số điểm tốt với các tính năng mới như chống trộm và bảo vệ dữ liệu, bảo vệ tài khoản Facebook, chống giả mạo, chức năng AutoPilot (chương trình tự đưa ra quyết định an toàn thay bạn), Social Network Protection (lọc những đường link mà bạn nhận được từ bạn bè thông qua Facebook hoặc Twitter). Ngoài ra, trong những tình huống khẩn cấp, khi máy phát hiện ra các phần mềm độc hại đang chạy ngầm trong hệ thống, chức năng Rescue Mode sẽ yêu cầu khởi động lại máy tính để xử lý, làm sạch và phục hồi lại các tập tin lây nhiễm trong môi trường an toàn nhất.

Symantec Norton 360 Everywhere có khả năng bảo mật trên nhiều nền tảng khác nhau như máy tính cá nhân, máy tính Mac, điện thoại di động cùng máy tính bảng trên nền Android. Trong khi đó, Norton 360 phiên bản 6.0 (giá hơn 20USD cho phiên bản phần mềm chuẩn, kèm theo 2GB dung lượng lưu trữ trực tuyến), được xếp hạng là một trong những giải pháp bảo mật hàng đầu về khả năng bảo vệ và hiệu năng.
Norton 360 phiên bản 6.0 có khả năng bảo vệ các máy tính cá nhân tốt hơn cả ở chế độ thời gian thực và khả năng phục hồi cao. Ngoài ra, sản phẩm còn có khả năng bảo vệ người dùng trước những mối đe dọa trực tuyến, quản lý trên nền đám mây, quản lý băng thông giúp người dùng tránh việc sử dụng quá dung lượng dữ liệu được phép sử dụng mỗi tháng.

Những công nghệ Android khiến iPhone tụt hậu

Email Marketing Lap trinh di dong Lap trinh mobile Lap trinh Android Lap trinh IOS Hoc lap trinh di dong Hoc lap trinh mobile Lap trinh PHP Hoc PHP Lap trinh Java Hoc Java

 iPhone là smartphone bán chạy nhất trong lịch sử, nhưng liệu đây có phải là sản phẩm tốt nhất, được ứng dụng những công nghệ mới nhất và tuyệt vời nhất? Chắc chắn một điều đây là sản phẩm có thiết kế đẹp nhưng vẫn còn nhiều công nghệ có trên thiết bị Android mà iPhone chưa thể có.
Các thiết bị “không sợ nước”
Ảnh minh họa

Một số nhà sản xuất Nhật Bản như Panasonic và Fujitsu là những người tiên phong trong lĩnh vực này và đang đưa tới thị trường thiết bị Android không chỉ thiết bị có khả năng chống chịu nước mà thực sự là không thấm nước. Đối với bất cứ ai từng mất thiết bị giá 500USD vì trời mưa hoặc chẳng may đánh rơi xuống toilet, sẽ ước thiết bị đó có khả năng chống thấm nước.
Các công nghệ tự sạc pin
Hai lõi, bốn lõi sẽ giúp cho điện thoại xử lý nhanh và chạy các ứng dụng nuột hơn nhưng cũng là một trong những yếu tố ngốn nhiều pin của điện thoại. Vì vậy, công nghệ tự sạc pin sẽ thật hữu ích đối với những người thường xuyên sử dụng điện thoại để chơi game hoặc lướt web. Một nhóm các nhà nghiên cứu của trường đại học Cambridge đã vất vả để tạo ra cách giảm lãng phí năng lượng quá nhiều nhưng lại có khả năng tiếp thêm “sức” cho nguồn pin.
Ảnh minh họa

Để kéo dài thời gian giữa các lần sạc, nhóm ghiên cứu đã tạo ra một thiết bị nguyên mẫu có khả năng chuyển ánh sáng xung quanh thành điện nhờ sử dụng một mảng tế bào năng lượng mặt trời siêu mỏng được lắp trong màn hình của điện thoại.
Sạc pin cực nhanh
Các nhà nghiên cứu từ lâu đã mơ ước tạo ra một nguồn pin lâu và sạc nhanh. Với các ứng dụng quan trọng dành cho y tế, quân sự và thương mại, nghiên cứu về nguồn pin cuối cùng đã có sự đột phá. Một thông tin gần đây cho biết, một nhóm các nhà nghiên cứu đã phát triển cấu trúc nano ba chiều của các tấm pin để có thể nạp và xả nhanh hơn.
Ảnh minh họa

Nhóm nghiên cứu, dẫn đầu bởi giáo sư Braun đã chứng minh rằng, các điện cực của pin có thể nạp hoặc xả trong vài vài giây, nhanh hơn gấp 10-100 lần so với các điện cực khác nhưng có thể vẫn thực hiện bình thường trong các thiết bị tiêu dùng hiện có, giống như điện thoại thông minh, máy tính bảng,…
Lõi tứ, lõi tám và nhiều hơn thế
Trong vài tháng tới, có hàng loạt các thiết bị trang bị chip Tegra 3 lõi tứ (thực chất có tới 5 lõi) sẽ đổ bộ ra thị trường. Chẳng hạn như Lenovo K2010, ASUS Transformer Prime,…Cả hai nhà sản xuất chip di động NVIDIA và ARM đều tích cực làm việc trên bộ chip 8 lõi và dự kiến sẽ sử dụng trên các thiết bị vào năm 2013.

Trong vài năm tới, xu hướng tạo ra các thiết bị siêu năng là điều dễ hiểu và không bao giờ dừng lại. Tất nhiên, nhu cầu mới chính là thứ kích thích sự đổi mới và trong trường hợp này, chắc chắn công nghệ màn hình sẽ tiếp tục được cải thiện và nguồn pin sẽ phải đủ sức để giúp thiết bị hoạt động lâu hơn.

Màn hình siêu nét
1080p không là gì
Không phải chờ đợi quá lâu, Toshiba đã minh chứng những gì mà thiết bị di động có thể có màn hình hiển thị độ nét cao nhất. Sản phẩm trang bị màn hình LCD 6,1-inch (được thu nhỏ xuống 4,65-inch và tăng lên 10,1-inch), độ phân giải 2560×1600 điểm ảnh với mật độ rất cao 498điểm ảnh/inch. Toshiba cho biết, họ còn bổ sung thêm chiều sâu cảm giác cho hình ảnh 2D, tỷ lệ tương phản 1000:1 và góc nhìn rộng 176 độ.
Ảnh minh họa

Nhiều người hỏi rằng, tại sao cần bộ xử lý lõi tứ, tại sao cần “sức mạnh” càng lớn. Chính là để phục vụ cho màn hình độ nét cực cao có thể đáp ứng trơn tru hơn. Hãy tưởng tượng bao nhiêu điểm ảnh cần đáp ứng ngay lập tức và thậm chí đáp ứng cảm ứng ngón tay cũng phải rất nhanh,…Màn hình do Toshiba tạo ra có độ phân giải cao gấp 4 lần iPad 1 và 2.
Công nghệ xác thực sinh trắc học
Khả năng nhận diện khuôn mặt để mở khóa các thiết bị Android 4.0 Ice Cream Sandwich được áp dụng đầu tiên trên Galaxy Nexus vẫn chưa là gì so với công nghệ xác thực sinh trắc học của Fujitsu.
Ảnh minh họa

Fujitsu đã rất vất vả để phát triển công nghệ nhận dạng tĩnh mạch khi tiếp xúc lòng bàn tay, tức là sử dụng mô hình mạch máu độc đáo làm dữ liệu nhận dạng cá nhân của mỗi người. Công nghệ nhận dạng tĩnh mạch có khả năng bảo mật rất cao vì dữ liệu nhận dạng nằm bên trong mỗi cơ thể người nên hầu như không thể làm giả. Cách này có khả năng bảo mật hơn việc nhận diện khuôn mặt vì có thể bị lừa bằng một bức ảnh. Nhận dạng dấu vân tay trên Atrix của Motorola cảm giác vẫn chưa đủ an toàn. Vì vậy, chắc chắn mọi người sẽ chào đón thêm tính năng bảo mật này trên thiết bị Android.
Chuyển dữ liệu không dây cực nhanh giữa các thiết bị
Toshiba đã đưa ra một giao thức chuyển dữ liệu không dây có tên gọi Transfer Jet, nhằm cách mạng hóa phương thức chuyển dữ liệu giữa các thiết bị hiện nay. Transfer Jet là giao thức chuyển dữ liệu không dây với tốc độ 360Mb/giây, cho phép gửi các tệp tin dung lượng lớn nhanh như chớp.

Có rất nhiều thứ được áp dụng trên thiết bị Android như bộ xử lý mạnh hơn, phần mềm trực quan hơn nhờ Android 5.0 Jelly Bean, màn hình sáng và nét hơn, bộ nhớ RAM và dung lượng lưu trữ nhiều hơn, thiết bị tự sạc, “cơ thể” siêu mỏng,…Sự phát triển công nghệ trên các thiết bị Android diễn ra cực nhanh. Chính những cải tiến đó sẽ làm cho iPhone trở nên “tụt hậu” về công nghệ nếu không tạo được sự đột phá mới trên iPhone thế hệ thứ 6 sắp tới (dự kiến ra mắt vào tháng 6).

Hàng loạt điện thoại mới ra mắt tại Việt Nam

Email Marketing Lap trinh di dong Lap trinh mobile Lap trinh Android Lap trinh IOS Hoc lap trinh di dong Hoc lap trinh mobile Lap trinh PHP Hoc PHP Lap trinh Java Hoc Java

 3 tháng đầu năm 2012, thị trường Việt Nam liên tục đón nhận sự xuất hiện của hàng chục mẫu điện thoại mới đến từ những nhà sản xuất lớn như Nokia, Samsung, LG, HTC, Sony…
Năm 2011 tiếp tục là một năm đầy khó khăn đối với các nhà sản xuất điện thoại di động, đặc biệt là với RIM, tuy nhiên trong 3 tháng đầu năm 2012, hãng đã đem tới thị trường Việt Nam hai sản phẩm cao cấp là Bold 9790 (11,5 triệu đồng) và Curve 9360 (8,2 triệu đồng).
Bold 9790 và Curve 9360 vẫn sử dụng bàn phím QWERTY đặc trưng trên các dòng điện thoại của RIM. Cả 2 được trang bị phần cứng cấu hình cao, hỗ trợ nhiều kết nối và chạy trên nền tảng hệ điều hành OS 7. Các smartphone này cũng được xem là những “con bài” chiến lược nhằm giành lại thị trường của nhà sản xuất RIM.

Ảnh minh họa
Blackberry Bold 9790 của RIM chính thức xuất hiện tại Việt Nam vào tháng 2

Còn đối với LG, hãng điện tử Hàn Quốc này cũng mang đến thị trường Việt Nam nhiều sản phẩm mới trong 3 tháng đầu năm. Nổi bật nhất là “siêu phẩm” Prada 3.0 (14,2 triệu đồng) được ví như sự kết hợp hoàn hảo giữa công nghệ của LG với nhãn hiệu thời trang danh tiếng Prada.

Cuối tháng 3, LG lại tiếp tục gây bất ngờ với việc ra mẫu điện thoại 3 sim đầu tiên của hãng. Chiếc A290 có giá khá rẻ (1,4 triệu đồng) nhưng vẫn được trang bị nhiều tính năng giải trí cơ bản như nghe nhạc, xem phim, chụp ảnh, kết nối Bluetooth, GPRS, hỗ trợ thẻ nhớ ngoài xem file văn bản.
Trong thời gian tới thị trường Việt sẽ lại đón nhận hai “bom tấn” mới của LG mang tên gọi Viper và Spectrum. Viper hỗ trợ 4G LTE chạy chip lõi kép 1.2GHz trong khi Spectrum sở hữu màn hình HD, dùng CPU Scorpion lõi kép tốc độ 1.5GHz.

Một cái tên “ồn ào” không kém LG chính là “ông lớn” Nokia. Tiếp nối sự thành công của các mẫu điện thoại giá rẻ sử dụng bàn phím lớn QWERTY mà đại diện tiêu biểu là C3. Hãng diện tử Phần Lan tiếp tục mang đến Asha 302 (2,8 triệu đồng) và 200 (1,7 triệu đồng).

Ngay sau khi xuất hiện, hai chiếc điện thoại giá rẻ này đã lọt vào danh sách những sản phẩm bán chạy nhất tháng 2 và 3 tại các siêu thị điện máy lớn. Còn tại phân khúc điện thoại trung cấp, hai mẫu điện thoại cảm ứng khác của Nokia là 603 và 710 cũng khá thành công nhờ mức giá hợp lý với một câu hình tốt.

Ảnh minh họa
Nokia 710 là một trong những chiếc điện thoại bán chạy nhất tháng 3

Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến cái tên nổi tiếng Samsung. Nhà sản xuất Hàn Quốc vẫn luôn được người tiêu dùng biết đến bởi có số lượng model nhiều nhất trên thị trường Việt Nam.

Đối với phân khúc điện thoại cam cấp, sau sự xuất hiện của hai mẫu điện thoại đình đám là Galaxy S I9100G và Galaxy Nexus thì tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có thông tin thêm về một “bom tấn” đến từ hãng điện tử Hàn Quốc.
Nhưng 3 tháng đầu năm 2011 lại chứng kiến sự thành công của các model giá rẻ và tầm trung của Samsung như Torino S6102 (4,5 triệu đồng) , Galaxy Y 5360 (3,5 triệu đồng), Star 3 S5220 (2,6 triệu đồng), C3312 (1,9 triệu đồng), E1232B (760 ngàn đồng).

Ngoài Nokia, LG, Samsung và RIM, các hãng điện thoại lớn như Sony và HTC lại khá “im hơi lặng tiếng” khi chỉ mang tới ra thị trường Việt Nam hai “siêu phẩm” là Xperia S và one X. Tuy nhiên cả hai mẫu smartphone này lại được người tiêu dùng đánh giá cao về thiết kế cùng một phần cứng thuộc loại “khủng”.

Yahoo, Google chao đảo trước vòng xoáy tàn lụi

Email Marketing Lap trinh di dong Lap trinh mobile Lap trinh Android Lap trinh IOS Hoc lap trinh di dong Hoc lap trinh mobile Lap trinh PHP Hoc PHP Lap trinh Java Hoc Java

Để tồn tại và phát triển trong môi trường đầy cạnh tranh hiện nay, bản thân các hãng công nghệ lớn của thế giới cũng trải qua nhiều thăng trầm. Có hãng lấy đó làm bài học để tiếp tục đi lên. Có hãng thì lại đánh mất cơ hội đó để rồi dần chìm vào quên lãng. Những “gã khổng lồ” như Facebook, Apple, Microsoft, Sun, Yahoo…, đều tồn tại trong mình nhiều vấn đề và không phải con đường nào cũng trải toàn hoa hồng.
 Công nghệ phát triển nhanh như vũ báo đã kéo các hãng công nghệ lớn chạy theo cuộc đua này. Tuy nhiên, nếu không biết cách, nhiều đại gia công nghệ một thời đã bị cuốn theo vòng xoáy tàn lụi.
Microsoft: Thử thách đối mặt
Thành công của “ông trùm” phần mềm này đương nhiên gắn kết chặt chẽ với phần mềm máy tính, nhưng cũng không thiếu dấu ấn của phần cứng, chẳng hạn như máy chơi game Xbox. Ý tưởng lớn nhất của Microsoft có lẽ chính là việc cung cấp dịch vụ thuê ngoài phần mềm. Điển hình là việc hợp tác với Apple và sau đó là IBM, mà Office và Windows chính là các kết quả cụ thể. Tuy nhiên, do lo ngại bị qua mặt mà hai “gã khổng lồ” này đã bất đồng quan điểm với nhau, để rồi “trùm phần mềm” quyết định bán trực tiếp sản phẩm cho doanh nghiệp chứ không qua IBM.

MSN cũng là một trong những dịch vụ được tạo ra từ lo ngại bị “qua mặt” khi Microsoft xem AOL như đối thủ tiềm tàng. Rồi trong quá trình phát triển, Microsoft mất dần sự tập vào các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) và người dùng. Hãng cũng bắt đầu lo ngại rằng Sony sẽ biến hệ thống chơi game PlayStation thành chiếc máy tính, và rồi Xbox được ra đời trong hoàn cảnh đó. Tuy nhiên, Xbox lại làm khoét sâu hố ngăn cách với các OME và dần giết chết ngành kinh doanh game trên PC.

Thế rồi khi Google xuất hiện, Microsoft cũng lại trải qua những “cơn đau đầu” khủng khiếp. Hãng phần mềm này đã phải chi hàng tỉ USD chỉ để cố không bị Google qua mặt, nhưng rút cuộc kết quả cũng không như mong đợi. Tất nhiên, mọi thứ với Microsoft cũng chưa đến mức quá tồi tệ nhưng các OEM, từng giúp cho hãng này trở thành đối thủ không thể đánh bại, giờ đây lại đang sử dụng cả sản phẩm Google, và Microsoft cũng đang bị phủ bóng mờ trong một số lĩnh vực lớn như smartphone máy tính bảng.
Apple hồi sinh
Khởi đầu là công ty cung cấp PC cho người tiêu dùng, Apple từng bị tên tuổi của Commodore, vốn tập trung tốt hơn vào lĩnh vực người tiêu dùng, che khuất. Sau khi Jobs bỏ công ty ra làm ngoài thì Apple mất phương hướng hoàn toàn khi cố trở thành những khuôn mẫu như kiểu Compap, Sony/HP hay sau này là Microsoft. Mở rộng phần cứng tràn lan, gồm cả máy ảnh, máy in, máy tính cầm tay, rồi sau đó là phần mềm (MacOS), có vẻ như Apple không đặt trọng tâm vào lĩnh vực cụ thể nào cả.

Tuy nhiên, mọi việc đã khác đi khi Jobs quay trở lại lãnh đạo công ty. Ông đã điều hành công ty tái tập trung vào lĩnh vực kinh doanh PC người dùng, rồi sau đó chuyển sang lĩnh vực giải trí. Với sự tái cơ cấu tập trung chủ yếu vào người tiêu dùng và những trải nghiệm đỉnh cao đã giúp cho “Quả Táo” lấy lại hình ảnh của mình. Apple là công ty duy nhất cho tới nay đi theo lộ trình: đánh mất mình rồi lại trở lại và mạnh hơn bao giờ hết.
Netscape: “Chết” vì kèn cựa
Netscape chính là điển hình của việc “quên mất mình là ai”. Khởi nguồn của Netscape là công ty Internet, và khi đó bất cứ ai muốn vào web đều phải sử dụng công cụ của hãng này. Thế nhưng Netscape lại không thể xác định là cần phải làm gì để tồn tại và lớn mạnh, đặc biệt là ko biết kiếm tiền như kiểu của Google. Thay vào đó, hãng này lại đi theo hướng cạnh tranh để nhằm thay thế Microsoft. Netscape đã lặp lại bài học xương máu y như khi Microsoft muốn “kèn cựa” với Google, và đương nhiên cái nhận về là sự thất bại. Giả sử bây giờ bạn có nói chuyện với vị lãnh đạo cũ nào đó của Netscape thì họ rằng Netscape đã bị chính Microsoft “tiêu diệt”.
Sun muốn thành Microsoft “phẩy”
Sun cũng có tác động tương tự với IBM như trường hợp của Google với Microsoft. Sun chính là tác nhân khiến cho IBM đánh mất mô hình thành công của hãng và phá bỏ các rào cản định sẵn, thế nhưng Sun lại không thể sống sót trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Sun cũng khiến cho Microsoft thiệt hại ít nhiều nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.

Sun cũng là một trong những khuôn mẫu điển hình của việc “quên mất mình là ai”, và quá tập trung vào việc bắt chước mô hình của công ty khác. Thực tế thì Sun có lẽ cũng đã nhận ra là không thể cạnh tranh với Microsoft, trong khi lại là đối thủ cạnh tranh của nhiều tên tuối khác như IBM, HP và Dell. Thay vì như Apple, chỉ tập trung vào những giải pháp toàn diện và làm chủ giải pháp đó, thì Sun lại cố trở thành một Microsoft khác.
Yahoo: Câu chuyện buồn
Có lẽ “buồn” nhất trong nhóm các công ty đề cập ở đây là trường hợp của Yahoo, vốn sở hữu cả một mạng xã hội rất mạnh ngay trước khi chúng ta gọi chúng là mạng xã hội, thì nay sức cạnh tranh đã bị thui chột và hầu như người dùng không còn thấy vai trò quyết định của hãng này trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Thách thức Yahoo chính là Google, vốn được đầu tư mạnh tay hơn và có nhiều tham vọng hơn. Thế nhưng thay vì tăng cường hợp tác và nhận thức đúng vai trò chỉ là nhà cung cấp thông tin quảng cáo có giá trị thì giới lãnh đạo Yahoo lại theo đuổi các dự án bóng bẩy khác và kiên định với lĩnh vực tìm kiếm web.

Thật khôi hài là Facebook hiện chính là đe dọa lớn nhất đối với Google, chứ không phải Microsoft hay Yahoo. Giờ đây Yahoo đã mất hoàn toàn phương hướng và buộc phải kiện Facebook vi phạm các công nghệ mà thực tế đã không được còn dùng nữa. Thế mới nói thay vì trở thành nhà cung cấp mạng xã hội lớn mạnh thì Yahoo lại là một ví dụ “đầy nước mắt” của những sự cố khi bạn quên mất mình là ai.
Google: Không phải mọi thứ đều màu hồng
Nguồn thu chính của Google là bán quảng cáo. Chính vì thế mà hãng phải tìm mọi cách để biến các quảng cáo trên web trở nên giá trị hơn. Hiện Google cũng đang là nguồn quản lý doanh thu quảng cáo chính của cư dân mạng. Công thức chính của Google là kiếm tiềm từ Web, thế nhưng con đường phát triển của hãng đang gặp khó khăn không ít.

Đáng ra Google nên coi Microsoft và Facebook là đối tác thay vì đối thủ. Một nhân viên của Google từng nhận xét rằng có vẻ như hãng đang cố theo đuổi một mô hình như Facebook thay vì Microsoft, nhưng khó có thể đạt được. Google luôn xuất hiện với khẩu hiệu chống đối với Microsoft và luôn cố tạo cho mọi người cảm giác Microsoft là “quỷ dữ”, nhưng thực tế lại cho thấy Google làm nhiều thứ còn “tệ” hơn Microsoft.
Liệu Facebook có tránh được vết xe đổ?
Hiện Facebook đang rất phát triển và được coi là một hiện tượng mới. Hiện chưa có dấu hiệu nào cho thấy Facebook sẽ lặp lại sai lầm của các hãng khác – có nghĩa là “quên mất mình là ai” và phát triển công ty theo mô hình của hãng khác. Một trong những đối thủ tiềm tàng của Facebook hiện nay là Pinterest nhưng cũng mới chỉ ở giai đoạn sơ khai. Tuy nhiên, cũng khó có thể nói trước điều gì trong bối cảnh hiện nay. Sở dĩ Facebook mạnh là chưa có một đối thủ ngang tài ngang sức, còn nếu có thì đương nhiên Facebook không thể cứ “làm mưa làm gió” trong mảng mạng xã hội được.

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Idea Centre B320 - máy tính All-in-One bảo vệ mắt

Email Marketing Lap trinh di dong Lap trinh mobile Lap trinh Android Lap trinh IOS Hoc lap trinh di dong Hoc lap trinh mobile Lap trinh PHP Hoc PHP Lap trinh Java Hoc Java

Với hệ thống điều chỉnh sáng tự động và cảnh báo khoảng cách mắt, máy tính Lenovo Idea Centre B320 thích hợp để dùng trong gia đình.
Idea Centre B320 là mẫu máy tính All-in-One (AiO), được Lenovo Việt Nam giới thiệu ra thị trường ngày 4/4/2012. Máy hướng đến người dùng gia đình với các tính năng đáp ứng nhu cầu giải trí hiện đại.
Lenovo Idea Centre B320 có khả năng tự điều chỉnh sáng và cảnh báo khi người dùng ngồi quá gần.
Để xem tivi, người dùng chỉ cần nhấn nút OneKey TV cùng với một điều khiển từ xa là có thể sử dụng màn hình của chiếc máy tính như chiếc tivi HD. Máy cũng hỗ trợ cả việc thu lại các chương trình tivi mà không cần khởi động máy.
B320 cũng được nhân đôi tính hiệu dụng bằng cách chuyển đổi giữa chế độ TV và máy tính khi sử dụng tính năng hình-trong-hình (picture-in-picture) một cách dễ dàng.
Ông Gu Xin, Tổng Giám đốc Lenovo Việt Nam cho biết, máy được tích hợp cả kết nối Wi-Fi và Bluetooth, cho phép người dùng thoải mái di chuyển và kết nối chiếc máy tính AIO này với bất kỳ thiết bị di động nào. Hệ thống OneKey Rescue System của Idea Centre B320 giúp đơn giản hóa trong quy trình sao lưu và khôi phục dữ liệu cũng như sử dụng chế độ bảo hành tại chỗ của Lenovo, tránh mất thời gian mang máy tớ trung tâm dịch vụ.
Đặc biệt, hệ thống điều chỉnh độ sáng tự động (Dynamic Brightness) để phù hợp với ánh sáng chung quanh và cảnh báo khoảng cách mắt (Eye Distance) nếu họ đang ngồi quá gần màn hình, giúp chống mỏi mắt cho người dùng.
Cấu hình của IdeaCentre B320: loa 5.0 tích hợp, hỗ trợ âm thanh SRS Premium Sound, cổng USB 3.0, bộ vi xử lý Intel Core i3 thế hệ thứ hai và 2GB RAM, HDD dung lượng 500GB (7200rpm).
Giá của Idea Centre B320 theo công bố của Lenovo Việt Nam là 15.499.000 đồng.